Tổng cục Thuế: Thông tin về việc xóa nợ, khoanh nợ tiền thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt đối với NNT

Tại Dự thảo Nghị quyết về một số giải pháp về thuế nhằm tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, đẩy mạnh sự phát triển của doanh nghiệp, Bộ Tài chính đã đề xuất một số nội dung cụ thể liên quan đến việc xóa nợ, khoanh nợ tiền thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt đối với người nộp thuế đã giải thể, phá sản hoặc bỏ kinh doanh. Cụ thể:

Xóa nợ tiền thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt đối với doanh nghiệp, tổ chức thực tế đã giải thể, phá sản hoặc bỏ kinh doanh trước ngày 01/01/2014 và khoanh nợ tiền thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt đối với doanh nghiệp, tổ chức thực tế đã giải thể, phá sản hoặc bỏ kinh doanh trong giai đoạn từ 01/01/2014 đến 31/12/2015.

Xóa nợ tiền thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt của hộ, cá nhân kinh doanh đã bỏ kinh doanh trước ngày 01/01/2014 và khoanh nợ tiền thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt của hộ, cá nhân kinh doanh đã bỏ kinh doanh trong giai đoạn từ ngày 01/01/2014 đến ngày 31/12/2015.

Vì sao phải xóa nợ thuế

Lý giải về thông tin về xóa nợ thuế, ngày 10/8, Tổng cục Thuế cho biết, việc đề xuất, lựa chọn các đối tượng để xóa nợ, khoanh nợ thuế tháo gỡ khó khăn cho DN, cá nhân kinh doanh được căn cứ trên cơ sở tổng kết đánh giá tình hình thực hiện xử lý xóa nợ thuế trong thời gian qua và tình hình thực tiễn, cơ quan thuế đã rà soát ký lưỡng các đối tượng để để xuất, cụ thể:

Theo Điều 65 Luật quản lý thuế năm 2007, việc xoá nợ tiền thuế, tiền phạt được áp dụng đối với hai (02) trường hợp: Doanh nghiệp bị tuyên bố phá sản đã thực hiện các khoản thanh toán theo quy định của pháp luật phá sản mà không còn tài sản để nộp tiền thuế, tiền phạt; Cá nhân được pháp luật coi là đã chết, mất tích, mất năng lực hành vi dân sự mà không có tài sản để nộp tiền thuế, tiền phạt còn nợ.

Bên cạnh đó, Khoản 3 Điều 2 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật quản lý thuế số 21/2012/QH13 có hiệu lực từ 1/7/2013 thì việc xóa nợ thuế được áp dụng bổ sung đối với “các khoản nợ tiền thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt của người nộp thuế không thuộc 02 trường hợp trên mà cơ quan quản lý thuế đã áp dụng tất cả các biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế và các khoản nợ tiền thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt này đã quá mười năm, kể từ ngày hết thời hạn nộp thuế, nhưng không có khả năng thu hồi.”

Thực tế thực hiện xử lý nợ thuế trong thời gian qua thì những quy định của pháp luật về xóa nợ thuế đối với 03 (ba) trường hợp nêu trên chưa bao quát được hết thực trạng kinh doanh, chưa xử lý được tồn tại về nợ thuế không thể thu hồi được nhất là trong giai đoạn kinh tế có nhiều biến động bất lợi từ ngày 31/12/2013 trở về trước. Cụ thể, nhiều người nộp thuế cung ứng hàng hoá, dịch vụ được thanh toán bằng vốn ngân sách nhà nước (NSNN) hoặc có nguồn từ NSNN nhưng chưa được thanh toán nên không có nguồn nộp kịp thời nhưng vẫn bị tính tiền chậm nộp tiền thuế dẫn đến thiếu công bằng giữa doanh nghiệp và nhà nước khi doanh nghiệp nợ thuế thì bị tính tiền chậm nộp nhưng NSNN chậm thanh toán cho doanh nghiệp thì không bị tính lãi; Hoặc nhiều người nộp thuế kinh doanh thua lỗ, nhiều trường hợp lâm vào tình trạng mất khả năng thanh toán, phải ngừng hoạt động hoặc thậm chí giải thể, phá sản nhưng không thực hiện theo đúng trình tự, thủ tục giải thể, phá sản. Số nợ thuế đã phát sinh từ trước thời điểm mất khả năng thanh toán, giải thể, phá sản (mặc dù Cơ quan thuế đã áp dụng hết các biện pháp cưỡng chế theo quy định mà chưa thu được) bị tính tiền chậm nộp ở mức 0,05%/ngày (18,3%/năm) liên tục tăng thêm trong khi người nộp thuế đã không còn hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoặc đã giải thể, phá sản.

Việc xóa nợ, khoanh nợ thuế dựa trên nguyên tắc nào, có đảm bảo công bằng không?

Là câu hỏi được không ít người đặt ra trong thời gian qua. Thậm chí có ý kiến cho rằng việc xóa nợ, khoanh nợ thuế chỉ hướng đến DN nhà nước, không tác động gì cho DN, không đảm bảo công bằng. Tuy nhiên, thông tin này là chưa chính xác. Bộ Tài chính, Tổng cục Thuế đề xuất xử lý xóa nợ, khoanh nợ cho các doanh nghiệp để tháo gỡ khó khăn cho DN, hộ cá nhân kinh doanh, làm giảm nợ của nền kinh tế, giúp nền kinh tế trong sạch hơn, minh bạch hơn, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, việc xóa nợ, khoanh nợ đã đảm bảo theo các nguyên tắc:

Xóa nợ, khoanh nợ tiền thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt phải bảo đảm bình đẳng giữa các thành phần kinh tế, bảo đảm nguyên tắc không phân biệt đối xử phù hợp với thông lệ quốc tế và các cam kết quốc tế mà Việt Nam đã ký kết và tham gia. Theo đó đối tượng xóa nợ, khoanh nợ gồm tất cả các DN thuộc mọi thành phần kinh tế DNNN, DN có vốn ĐTNN, DN NQD, hộ cá nhân kinh doanh, chứ không chỉ mỗi DN nhà nước.

Xóa nợ tiền chậm nộp đối với trường hợp do nguyên nhân bất khả kháng hoặc do trở ngại khách quan không có tiền để nộp thuế; Đối với những trường hợp này để đảm bảo công bằng, điều kiện để được xóa thì người nộp thuế vẫn phải nộp đủ tiền thuế; Đối tượng ở đây là các doanh nghiệp cung ứng hàng hoá, dịch vụ được thanh toán bằng vốn NSNN hoặc có nguồn từ NSNN nhưng chưa được Nhà nước thanh toán kịp thời dẫn đến bị tính tiền chậm nộp.

Xóa nợ tiền thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt và khoanh nợ tiền thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt đối với những trường hợp không còn khả năng thu do tổ chức kinh doanh thực tế đã giải thể, phá sản, cá nhân kinh doanh thực tế đã chết, mất tích, không còn đối tượng để thu: Các DN thực tế đã giải thể, phá sản nhưng không làm đầy đủ trình tự, thủ tục giải thể, phá sản theo quy định của pháp luật, kinh doanh thua lỗ, không còn tài sản, mất khả năng thanh toán, đã không còn hoạt động sản xuất, kinh doanh, cơ quan thuế đã thực hiện các biện pháp cưỡng chế, chính quyền địa phương cũng không xác minh được tài sản của NNT để thực hiện thu nợ; Người nộp thuế bỏ kinh doanh: Cơ quan thuế đã phối hợp với chính quyền địa phương các cơ quan chức năng để xác minh thông tin, tìm đối tượng để thu và đã áp dụng các biện pháp cưỡng chế trong thời gian dài, nhưng không đạt kết quả, đã thông báo cơ sở kinh doanh không còn hoạt động tại địa chỉ đăng ký kinh doanh, có xác nhận giữa Cơ quan thuế và Cơ quan công an hoặc giữa Cơ quan thuế và chính quyền địa phương về việc người nộp thuế đã bỏ địa chỉ đăng ký kinh doanh, cơ quan thuế đã thực hiện các biện pháp quản lý để thu tiền thuế nợ nhưng không thu được. Đối với nhiều hộ kinh doanh không có đăng ký kinh doanh thì UBND cấp xã, phường quản lý trực tiếp những hộ này. Hộ, cá nhân kinh doanh bỏ kinh doanh đều do kinh doanh thua lỗ, chỉ còn tài sản đủ để đáp ứng nhu cầu cơ bản trong sinh hoạt thông thường.

Để bảo đảm chặt chẽ việc xóa nợ, khoanh nợ đối với các trường hợp giải thể, bỏ kinh doanh, Bộ Tài chính cũng đã đề nghị quy định chế tài trường hợp người sáng lập doanh nghiệp, người đại diện theo pháp luật của tổ chức tiếp tục đăng ký thành lập tổ chức kinh doanh khác, tối thiểu sau 02 năm kể từ thời điểm giải thể, phá sản mới cấp mã số kinh doanh cho những doanh nghiệp này.

Như vậy, việc quy định đối tượng xóa nợ, khoanh nợ cho trường hợp thực tế đã giải thể, phá sản bỏ kinh doanh như đề xuất của Bộ Tài chính là rất chặt chẽ, đảm bảo bình đẳng, tháo gỡ kịp thời khó khăn cho DN, hộ cá nhân kinh doanh, là chủ trương lớn của Chính phủ, Quốc hội.

Đề xuất xóa nợ 7.963 tỷ đồng

Theo đề xuất của Bộ Tài chính thì việc xóa nợ tiền thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt cho người nộp thuế là 7.963 tỷ đồng, chứ không phải là 15.000 tỷ đồng như một số thông tin phản ánh trên báo chí trong thời gian vừa qua.

Số tiền khoanh nợ cho những trường hợp thực tế đã giải thể, phá sản, bỏ kinh doanh theo đề xuất là 6.731 tỷ đồng, việc khoanh nợ là tạm thời không tính tiền chậm nộp để theo dõi do các đối tượng này gặp khó khăn chứ không phải là xóa nợ,

Đối với các trường hợp chây ỳ, cố tình chiếm đoạt tiền thuế của nhà nước sẽ bị xử lý nghiêm theo đúng quy định của pháp luật.